Trang chủ » Quản lý khai thác khoáng sản: Chặt quá hóa... lỏng lẻo

Quản lý khai thác khoáng sản: Chặt quá hóa... lỏng lẻo

(Ngày đăng: 21-10-2014 10:07:56)
icon facebook   icon google plus  
Nhiều chính sách về khai thác khoáng sản ở Việt Nam tưởng chặt mà hóa lỏng lẻo. Mức thuế, phí cao nhưng thu hạn chế thành thấp. Minh bạch hóa hoạt động khai thác khoáng sản được kỳ vọng là giải pháp căn cơ cho lĩnh vực này.

Hầu hết khoáng sản đều không thể tái sinh, trong khi đó nhu cầu sử dụng khoảng sản tăng nhanh chóng. Sẽ đến lúc, chúng ta không còn gì để sử dụng. Phải làm gì để sử dụng hiệu quả khoáng sản và tăng nguồn thu cho ngân sách?

DN không thể đầu tư chế biến sâu

Theo TS Lại Hồng Thanh - Chi hội Địa chất và Khoáng sản, hiện có đến quá nửa DN không thực hiện quan trắc môi trường. Nhiều DN chưa quan tâm đầu tư đúng mức cho thăm dò trữ lượng, chưa thống kê, kiểm kê trữ lượng khoáng sản đã khai thác… dẫn đến tình trạng làm “nghèo khoáng sản” trong quá trình khai thác. Sự thiếu đồng bộ về chính sách đang khiến DN có tư tưởng đầu tư ngắn hạn. DN không đầu tư sâu nên công nghệ còn lạc hậu, và lãng phí tài nguyên.

Đồng quan điểm này, ông Đoàn Kiển – Nguyên chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Than và Khoáng sản VN cho rằng, quy định hiện hành buộc các DN phải chế biến sâu đối với khoáng sản, không được bán thô. Tuy nhiên, với thực trạng cấp phép manh mún nhỏ lẻ đang diễn ra, các DN không có khả năng đầu tư chế biến sâu. Đã vậy, cơ quan quản lý nhà nước lại không quan tâm đúng mức đến vấn đề quy hoạch. Muốn khoáng sản được đầu tư công nghệ cao, chế biến sâu đem lại hiểu quả kinh tế thì cần có quy hoạch và cấp phép tập trung. Nhiều DN vào một nhóm hoặc một giấy phép để họ có thể liên kết đầu tư nhà máy, đầu tư công nghệ chế biến sâu.

Theo TS Lê Tuấn Lộc – Viện trưởng Viện Khoa học mỏ địa chất và năng lượng mới, hiện việc thu phí BVMT đang áp dụng theo Nghị định 74/2011. Việc thu này đang tạo ra một sự bất cập, một số khoáng sản của các mỏ đang khai thác có phí nhiều hơn giá bán thực tế của sản phẩm trên thị trường. Ví dụ quặng vàng sa khoáng, mức phí tối đa có thể bằng 100% giá bán. Còn thiếc sa khoáng có thể lên tới 276% giá bán trên thị trường.

Với mức phí trên, một số DN đã phải đóng cửa mỏ do tiền bán sản phẩm không đủ trả phí BVMT và thuế tài nguyên. Ngoài ra, các đơn vị khai thác chọn khu vực giàu tài nguyên bỏ lại khu vực nghèo tài nguyên đồng thời tìm mọi biện pháp để giảm thiểu khối lượng khai thác, khối lượng sản phẩm sẽ không khai thác đến “hàm lượng công nghiệp”.

Giải pháp minh bạch hóa

Theo ông Bill Howell – Trưởng nhóm Khoáng sản, Liên minh Diễn đàn DN VN (VBF), VN có thể tham gia sáng kiến Minh bạch trong Công nghiệp khai thác (EITI). Nguyên tắc của EITI là công khai các thông tin về hoạt động khai khoáng như hợp đồng, giấy phép, sản lượng khai thác cũng như các khoản đóng góp với sự giảm sát của cơ quan độc lập. Với các nước đã tham gia Sáng kiến này, EITI được đánh giá là công cụ hữu hiệu để giám sát các nguồn thu từ hoạt động khai khoáng, tăng tính minh bạch trong ngành công nghiệp khai khoáng. Tính đến tháng 7/2014, thế giới đã có 45 quốc gia cam kết thực thi EITI. VN đã tiếp cận EITI từ năm 2009 thông qua việc tham dự Hội nghị toàn cầu EITI lần thứ 4 tại Doha. Đến nay, Chính phủ VN đã có những bước chuyển biến tích cực trong việc tiếp cận Sáng kiến này.

Đến hết năm 2013, trong số 495 giấy phép khai thác khoáng sản do Bộ TN&MT cấp thì có 51 giấy phép đã hết hạn.
Bà Trần Thanh Thủy - Điều phối viên Liên minh Khoáng sản cũng khẳng định  EITI hỗ trợ công tác đánh giá và cải thiện chính sách lĩnh vực khai khoáng của nhà nước theo hướng nâng cao hiệu quả lĩnh vực khai thác tài nguyên EITI thúc đẩy sự phối hợp giữa các bên liên quan. Ngoài ra, EITI góp phần cải thiện môi trường đầu tư, giúp DN hạn chế các rủi ro và hoạt động bền vững hơn. EITI giúp người dân hiểu rõ hơn về hoạt động khai khoáng và qua đó góp phần giảm các xung đột.

Ông Lại Hồng Thanh, Cục trưởng Cục Kiểm soát hoạt động khoáng sản (Bộ Tài nguyên và Môi trường) cho biết, chỉ có khoảng 30% - 40% tổ chức đang khai thác khoáng sản thực hiện việc báo cáo định kỳ theo quy định. Cũng từ đó, nguồn thu ngân sách từ thuế tài nguyên bị thất thoát. Về thể chế, Luật Khoáng sản năm 2010 đã có hiệu lực từ ngày 1-7-2011, song đến nay Chính phủ mới ban hành 2 nghị định chưa có hướng dẫn mức thu, phương thức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản. Nghị định xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước, khoáng sản cũng chưa được ban hành.

Để khắc phục những tồn tại này, ông Lại Hồng Thanh cho rằng, Việt Nam cần nghiên cứu lộ trình đến năm 2015 tham gia EITI mà nhiều nước trên thế giới đã thực hiện để nâng cao hiệu quả quản trị tài nguyên khoáng sản.